CS:   Hà Nội
 
CS:  TP. HCM
 

Giá trị thặng du đối với nhà đầu tư hiện nay. Vận dụng với các doanh nghiệp nhỏ

18-06-2022 | 11894 lượt xem
- Trong đời sống xã hội từ trước đến nay, kinh tế chính trị Mác – Lenin vẫn luôn đóng một vai trò quan trọng. Trong bối cảnh đổi mới như hiện nay, công nghiệp hóa hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, nghiên cứu kinh tế chính trị Mác – Lenin càng là vấn đề được đặt ra bức thiết, nhằm khắc phục lạc hậu về lý luận, góp phần hình thành tư duy kinh tế mới. Công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam đòi hỏi phải gắn liền với các phạm trù và các quy luật kinh tế của nó. Vì vậy, nói rằng học thuyết sản xuất giá trị thặng dư của tư bản chủ nghĩa là “hòn đá tảng” trong toàn bộ lí luận kinh tế của C. Mác quả thật rất đúng.

-         Trong bài điếu văn của Ăng-ghen đọc trước mộ của Các- Mác, một trong ba cống hiến vĩ đại của Mác được Ăng-ghen nhắc tới đó là việc tìm ra quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phương thức đó sinh ra. Phải nói rằng học thuyết giá trị thặng dư là “hòn đá tảng” trong toàn bộ lí luận kinh tế của C. Mác. Trong quyển I của bộ tư bản có tựa đề là “Về tư bản”, C. Mác đã trình bày một cách khoa học hệ thống các phạm trù kinh tế chính trị tư bản mà trước đó, chưa ai có thể làm được. Một trong số các học thuyết được nêu ra là thuyết giá trị thặng dư, nhờ có nó mà toàn bộ bí mật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa được vạch trần, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được nêu ra một cách chính xác, mà trong đó hai phương pháp sản xuất chính là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được áp dụng rộng rãi nhất, nhằm tạo ra tư bản để tích luỹ và tái mở rộng sản xuất, đưa xã hội tư bản ngày càng phát triển. Hai phương pháp này đã được đưa vào ứng dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Nước ta đang trong công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa, để phù hợp với những vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại, bổ sung và phát triển các học thuyết đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư.
-         Nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác, toàn bộ bí mật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa được vạch trần, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được nêu ra một cách chính xác. Mà trong đó kể đến hai phương pháp sản xuất chính là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được áp dụng rộng rãi nhất, nhằm tạo ra tư bản để tích lũy và tái mở rộng sản xuất, đưa xã hội ngày càng phát triển.
 

1   Mục đích nghiên cứu đề tài sản xuất giá trị thặng dư của tư bản chủ nghĩa:

-         Quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân của nước ta đang ngày càng phát triển. Vì vậy, việc nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư gợi ra cho nhà hoạch định chính sách phương thức làm tăng của cải, thúc đẩy phát triển kinh tế.
-         Nghiên cứu hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư của tư bản chủ nghĩa  nhằm  liên  hệ  với ngành kinh tế nước nhà, không ngừng phát triển nền kinh tế địa phương – đưa Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.
Với mục đích đã đề ra, cá nhân sinh viên cần thực hiện đủ các nhiệm vụ như sau:
– Khái niệm giá trị thặng dư và hai phương pháp sản xuất của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
– Thực trạng sử dụng hiện nay của hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và giải pháp cần đề ra.
– Vận dụng linh hoạt và có ý nghĩa vào phát triển  kinh  tế ngành/địa phương.

   Ý nghĩa nghiên cứu đề tài sản xuất giá trị thặng dư của tư bản chủ nghĩa:

-         Qua việc nghiên cứu đề tài này, cá nhân tôi muốn tìm hiểu sâu và làm rõ hơn hai phương pháp sản xuất của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Từ đó, vận dụng vào việc phát triển kinh tế tại địa phương nói riêng, Việt Nam nói chung. Ngoài ra, qua tìm hiểu, hiểu biết của chính bản thân tôi cũng đang được nâng cao từng ngày, giúp cải thiện hơn trong quá trình học tập và tiến tới một kết quả đầy tốt đẹp.
2.     Cơ sở lý luận của giá trị thặng dư, phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối:
2.1   Giá trị thặng dư là gì? Nguồn gốc, bản chất và ý nghĩa của giá trị thặng dư?
·        Khái niệm:
-         Giá trị thặng dư là mức độ dôi ra khi lấy mức thu của một đầu vào nhân tố trừ đi phần giá cung của nó.
+ D.Ricardo đã lấy ví dụ về việc nộp tô cho chủ đất sở hữu những miếng đất màu mỡ.
+ Mác đã nghiên cứu giá trị thặng dư dưới giác độ hao phí lao động, trong đó công nhân sản xuất ra nhiều giá trị hơn chi phí trả cho họ – yếu tố bị quy định bơi mức tiền lương tối thiểu chỉ đủ để đảm bảo cho họ tồn tại với tư các người lao động. Theo Mác, sự bóc lột công nhân chỉ có thể được loại trừ nếu nhà tư bản trả cho họ toàn bộ giá trị mới được tạo ra.
+ A.Marshall cho rằng xét về bản chất, thì tất cả các khoản thu nhập nhân tố cao hơn chi phí nhân tố đều là bán tô trong ngắn hạn. Cho nên theo ông, khi không có các cơ hội khác để một nhân tố sản xuất lựa chọn, thì toàn bộ phần thường dành cho nó đều là giá trị thặng dư.
Hiện có 2 phương pháp chủ yếu để thu được giá trị thặng dư:
-         Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối:  Là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư bằng cách kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không đổi.
-         Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối:  Là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên trong điều kiện ngày lao động, cường độ lao động không đổi.
·        Nguồn gốc:
-         Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải mua sức lao động và tư liệu sản xuất. Vì tư liệu sản xuất và sức lao động do nhà tư bản mua, nên trong quá trình sản xuất, người công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản và sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản.
-         Sản xuất tư bản chủ nghĩa là quá trình tạo ra giá trị tăng thêm cho nhà tư bản khi năng suất lao động đạt tới trình độ nhất định – chỉ cẩn một phần của ngày lao động người công nhân làm thuê đã tạo tra giá trị bằng giá trị sức lao động của chính mình.
-         Bằng lao động cụ thể của mình, công nhân sử dụng các tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào sản phẩm; và bằng lao động trừu tượng, công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó được gọi là giá trị thặng dư.
-         Giá trị hàng hóa (W) được sản xuất ra gồm hai phần: giá trị những tư liệu sản xuất đã hao phí được lao động cụ thể bảo tồn và chuyển vào sản phẩm (giá trị cũ, ký hiệu c) và giá trị mới (v+m) do lao động trìu tượng của công nhân tạo ra (lớn hơn giá trị hàng hóa sức lao động). Phần giá trị mới do lao động sống tạo thêm ra ngoài giá trị hàng hóa sức lao động, được nhà tư bản thu lấy mà không trả cho người lao động, được gọi là giá trị thặng dư (m). Như vậy, lao động sống là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư.
·        Bản chất và ý nghĩa:
-         Từ việc nghiên cứu Học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác, chúng ta thấy rõ ít nhất ba vấn đề lớn trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước.
Một là trong thời kỳ quá độ nền kinh tế ở nước ta, trong một chừng mực nào đó, quan hệ bóc lột chưa thể bị xóa bỏ ngay, sạch trơn theo cách tiếp cận giáo điều và xơ cứng cũ. Càng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta càng thấy rõ, chừng nào quan hệ bóc lột còn có tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thì chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó.
Hai là trong thực tế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, mọi phương án tìm cách định lượng rành mạch, máy móc và xơ cứng về mức độ bóc lột trong việc hoạch định các chủ trương chính sách, cũng như có thái độ phân biệt đối xử với tầng lớp doanh nhân mới đều xa rời thực tế và không thể thực hiện được. Điều có sức thuyết phục hơn cả hiện nay là quan hệ phân phối phải được thể chế hóa bằng luật.Đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước mỗi khi được thể chế hóa thành luật và các bộ luật thì chẳng những góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lấy luật làm công cụ và cơ sở để điều chỉnh các hành vi xã hội nói chung, mà còn cả hành vi bóc lột nói riêng. Ai chấp hành đúng pháp luật thì được xã hội thừa nhận và tôn vinh theo phương châm: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong nhận thức, quan điểm chung nên coi đó cũng chính là mức độ bóc lột được xã hội chấp nhận, tức là làm giàu hợp pháp. Trong quản lý xã hội thì phải kiểm soát chặt chẽ thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp để, một mặt, chống thất thu thuế, mặt khác, bảo đảm sự công bằng trong phân phối thông qua Nhà nước và bằng các “kênh” phân phối lại và điều tiết thu nhập xã hội. Thiết nghĩ, đây là một hướng tiếp cận vấn đề bóc lột giúp chúng ta tránh được những nhận thức giáo điều, phi biện chứng về quan hệ bóc lột, cũng như việc vận dụng nó trong một giai đoạn lịch sử cụ thể của việc giải phóng sức sản xuất, tạo động lực phát triển kinh tế và chủ động hội nhập thành công với nền kinh tế quốc tế.
Ba là mặt khác, cũng phải bảo vệ những quyền chính đáng của cả người lao động lẫn giới chủ sử dụng lao động bằng luật và bằng các chế tài thật cụ thể mới bảo đảm công khai, minh bạch và bền vững. Những mâu thuẫn về lợi ích trong quá trình sử dụng lao động là một thực tế, việc phân xử các mâu thuẫn ấy như thế nào để tránh những xung đột không cần thiết cũng lại là một yêu cầu cấp thiết hiện nay, thể hiện trong bản chất của chế độ mới. Bảo vệ được những quyền lợi chính đáng, những quyền lợi được luật pháp bảo vệ, của tất cả các bên trong quan hệ lao động là một bảo đảm cho việc vận dụng một cách hợp lý quan hệ bóc lột trong điều kiện hiện nay, đồng thời cũng là những đóng góp cơ bản nhất cho cả quá trình hoàn thiện và xây dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác ra đời trên cơ sở nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Phát hiện giá trị thặng dư làm nổ ra cuộc cách mạng thực sự trong toàn bộ khoa học kinh tế, vũ trang cho giai cấp vô sản thứ vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản.

 3.2. Các phương pháp sản suất giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa

- Đã có nhiều phương pháp được dùng để tạo ra giá trị thặng dư, nhưng C. Mác đã chỉ ra nhà tư bản sử dụng hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối. Mỗi một phương pháp mang một đặc điểm, tính chất riêng, đặc trưng đại diện cho một trình độ khác nhau của giai cấp tư sản, cũng như từng giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội.
   +  Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Ở giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi khoa học kĩ thuật còn thấp, tiến bộ vô cùng chậm chạo, trì trệ, thì phương pháp chủ yếu để tăng giá trị thặng dư đó là kéo dài ngày lao động của công nhân. Giai đoạn này, nền kinh tế sản xuất chủ yếu dùng là lao động thủ công hoặc lao động với những máy móc giản đơn ở công trường thủ công. Như vậy, có thể hiểu: giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi. Chẳng hạn, nếu ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động tất yếu là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ, tỷ suất giá trị thặng dư là 100%. Giả định nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ nữa với mọi điều kiện không đổi thì giá trị thặng dư tuyệt đối sẽ tăng từ 4 giờ lên 6 giờ và tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là:
m’= 6 giờ/ 4 giờ * 100%= 150%
Với sự thèm khát giá trị thặng dư, nhà tư bản phải tìm mọi cách để kéo dài ngày lao động và phương pháp bóc lột này đã đem lại hiệu quả rất cao cho các nhà tư bản. Nhưng ngày lao động có những giới hạn nhất định. Giới hạn trên của ngày lao động do thể chất và tinh thần của người lao động quyết định. Dưới chủ nghĩa tư bản mặc dù sức lao động của công nhân là hàng hoá, nhưng nó lại tồn tại trong cơ thể sống của con người. Vì vậy, ngoài thời gian người công nhân làm việc cho nhà tư bản trong xí nghiệp, người công nhân đòi hỏi còn phải có thời gian để ăn uống nghỉ ngơi nhằm tái sản xuất ra sức lao động. Mặt khác, sức lao động là thứ hàng hoá đặc biệt vì vậy ngoài yếu tố vật chất người công nhân đòi hỏi còn phải có thời gian cho những nhu cầu sinh hoạt về tinh thần, vật chất, tôn giáo của mình. Từ đó tất yếu dẫn đến phong trào của giai cấp vô sản đấu tranh đòi giai cấp tư sản phải rút ngắn thời gian lao động trong ngày. Giới hạn dưới của ngày lao động không thể bằng thời gian lao động tất yếu, tức là thời gian lao động thăng dư bằng không. Như vậy, về mặt kinh tế, ngày lao động phải dài hơn thời gian lao động tất yếu nhưng không thể vượt quá giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động.
Vì vậy, giai cấp tư sản phải chuyển sang một phương pháp bóc lột mới tinh vi hơn, đó là phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối.
   +  Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Để khắc phục những vấn đề mà phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối gặp phải thì nhà tư bản đã áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối vào sản xuất. Việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân. Mặt khác, khi sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, kĩ thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì các nhà tư bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, bó lột giá trị thặng dư tương đối. Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động xã hội, nhờ đó tăng thời gian lao động thăng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động vẫn như cũ. Vì giá trị sức lao động được quyết định bởi các tư liệu tiêu dùng và dịch vụ để sản xuất, tái sản xuất sức lao động, nên muốn hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho người lao động. Điều đó chỉ được thực hiện bằng cách tăng năng suất lao động xã hội cho các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ.
Giả sử ngày lao động là 8 giờ, nó được chia ra 4 giờ là thời gian lao động tất yếu, 4 giờ là thời gian lao động thặng dư, khi đó tỷ suất giá trị thặng dư là 100%. Nhưng khi máy móc được thay đổi, ngày lao động không thay đổi, thời gian lao động tất yếu của người công nhân chỉ còn lại là 3 giờ, thời gian lao động thặng dư đã tăng lên là 5 giờ, vì vậy tỷ suất thặng dư đã tăng lên là 166%. (Đồng nghĩa với trình độ bóc lột tăng lên).
Sự ra đời và phát triển và sử dụng rộng rãi máy móc đã làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng. Máy móc có ưu thế tuyệt đối so với các công cụ thủ công, vì công cụ thủ công là công cụ lao động do con người trực tiếp sử dụng bằng sức lao động nên bị hạn chế bởi khả năng sinh lý của con người, nhưng khi lao động bằng máy móc sẽ không gặp phải những hạn chế đó. Vì thế, việc sử dụng máy móc làm năng suất lao động tăng lên rất cao, làm giảm giá trị tư liệu sinh hoạt, làm hạ thấp giá trị hàng hoá sức lao động, rút ngắn thời gian lao động tất yếu kéo dài thời gian lao động thặng dư, giúp nhà tư bản thu được nhiều giá trị thặng dư hơn. Phương pháp giá trị thặng dư tương đối ngày càng được nâng cao do các cuộc cách mạng khoa học, đặc biệt cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển với tốc độ vũ bão, đem lại sự phát triển chưa từng có trong lịch sử loài người, nó khác với cuộc cách mạng khoa học là dẫn đến sự hình thành các nguyên lý công nghệ sản xuất mới, chứ không đơn thuần về công cụ sản xuất như cách mạng khoa học, do đó dẫn đến sự tăng trưởng cao, đưa xã hội loài người bước sang một nền văn minh mới – nền văn minh trí tuệ.
Một dạng của giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư siêu ngạch, đây là cái đích hướng tới của các nhà tư bản. Giá trị thặng dư siêu ngạch là giá trị thặng dư thu được do áp dụng công nghệ mới làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội của nó. Xét trong từng trường hợp giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, nó sẽ bị mất đi khi công nghệ đó đã được phổ biến rộng rãi, nhưng xét theo phạm vi toàn xã hội thì đây một hiện tượng thường xuyên. Theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là kì vọng của nhà tư bản và là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kĩ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, làm cho năng suất xã hội tăng lên nhanh chóng. C.Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối, vì giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động.
3.     So sánh của hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư của tư bản chủ nghĩa:
4.1. Sự giống nhau của hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư của tư bản chủ nghĩa:
Nhìn chung, hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư đều có đôi nét giống nhau. Ví dụ như, đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, nhà tư bản tìm mọi cách thức để đạt được giá trị thặng dư mà mình mong muốn.Nhà tư bản làm cho thời gian lao động thặng dư kéo dài ra. Khi đó, tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên không ngừng. Như vậy, mục tiêu mà họ hướng tới đều đạt được một cách rất suôn sẻ.Không chỉ vậy, phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp giá trị thặng dư tương đối này còn nâng cao trình độ và quy mô bóc lột của nhà tư bản đối với lao động.
              4.2. Sự khác nhau của hai phương pháp sản suất giá trị thặng dư của tư bản chủ nghĩa:
-  Mỗi một phương pháp có một đặc trưng riêng. Chính những cái riêng ấy làm nên những mặt mà chỉ có tại từng phương pháp một mới thể hiện đúng và rõ bản chất nhất.
-  Nếu như, phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối dựa vào việc tăng cường độ lao động của công nhân để tăng giá trị thặng dư thì ở phương pháp thặng dư tương đối lại khác. Nhà tư bản có cách thức tinh vi và nhạy bén hơn. Họ dựa vào việc phát triển năng suất lao động để tạo ra tỷ suất giá trị thặng dư đến một giai đoạn cao nhất. Ở phương pháp thặng dư tuyệt đối, nhà tư bản sẽ kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động cần thiết để đạt được mục tiêu. Còn ở phương pháp thặng dư tương đối, thay vì cách kéo dài như vậy, họ rút ngắn thời gian lao động cần thiết để tăng tương ứng thời gian lao động thặng dư. Như vậy, nhưng hạn chế mà ở phương pháp thặng dư tuyệt đối vấp phải, ở phương pháp này sẽ hoàn toàn không còn thấy nữa.
 - Vấp phải giới hạn thời gian trong ngày, những tranh cãi quyết liệt từ phía công nhân đòi giảm thời gian lao động và thời gian để công nhân tái sản xuất lao động, phương pháp sản xuất thặng dư tuyệt đối vẫn còn nhiều khúc mắc và chưa thực sự hiệu quả giúp cho nhà tư bản đạt được gí trị thặng dư như mong muốn. Thì, với cải tiến khoa học công nghệ, phương pháp thăng dư tương đối không giới hạn về thời gian. Bởi việc áp dụng công nghệ sản xuất mới tạo khả năng phát triển năng suất lao động lên vô hạn. Khi đó, giá trị thặng dư sẽ không ngừng tăng lên.
-  Nhìn chung, hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư nói trên được các nhà tư bản sử dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân làm thuê. -----  Dưới chủ nghĩa tư bản, việc áp dụng máy móc không phải là để giảm nhẹ cường độ lao động của công nhân mà trái lại tạo điều kiện để tăng cường độ lao động. Ngày nay việc tự động hóa sản xuất làm cho cường độ lao động tăng lên, nhưng dưới hình thức mới, sự căng thẳng của thần kinh thay thế cho cường độ lao động cơ bắp.

5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư đối với nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

- Việc nghiên cứu 2 phương pháp nói trên, khi gạt bỏ mục đích và tính chất của chủ nghĩa tư bản thì các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, nhất là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch có thể vận dụng trong các danh nghệp ở nước ta nhằm kích thích sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kỹ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lý, tiết kiệm chi phí sản xuất.
- Đối với quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân của nước ta, việc nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư gợi mở cho các nhà hoạch định chính sách phương thức làm tăng của cải, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong điều kiện điểm xuất phát của nước ta còn thấp, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cần tận dụng triệt để các nguồn lực, nhất là lao động và sản xuất kinh doanh. Về cơ bản lâu dài, cần phải coi trọng việc tăng năng suất lao động xã hội, coi đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là là giải pháp cơ bản để tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Giá trị thặng dư là do lao động không công của công nhân lao động làm thuê tạo ra, là mục đích, kết quả hoạt động của tư bản, của giai cấp tư sản. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, việc bóc lột sức lao động không công của người công nhân không còn nữa, nhưng không có nghĩa là giá trị thặng dư không tồn tại, mà giá trị thặng dư được sử dụng vào mục đích khác không giống như giai cấp tư sản, đó là giá trị thặng dư thu được là cơ sở, tiền đề để xây dựng đất nước, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, vì mục đích phát triển xã hội chủ nghĩa, vì con người. Không tách ra khỏi xu hướng của xã hội, Việt Nam vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư vào trong công cuộc xây dựng đất nước, trong đó tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một nhiệm vụ hàng đầu, đây cũng là một quy luật đặc biệt của quá trình phát triển kinh tế mỗi quốc gia.
- Công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến lao động với công nghệ, phương tiện tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động xã hội cao.Thực chất công nghiệp hóa- hiện đại hóa là quá trình tạo ra những tiền đề về vật chất, kỹ thuật, về con người, công nghệ, phương tiện, phương pháp, những yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất cho chủ nghĩa xã hội. Nội dung cốt lõi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là cải biến lao động thủ công lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến hiện đại đạt tới năng suất lao động xã hội cao, tạo ra sự đổi mới trong tất cả các ngành nghề, lĩnh vực.
- Là một nước tiến lên xã hội chủ nghĩa chưa và không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa hay đúng hơn là không qua giai đoạn thống trị của giai cấp tư sản. Vì vậy, chúng ta không được kế thừa tất cả những tiền đề nảy sinh một cách tự phát như những sáng tạo của người đi trước cho dù chúng chỉ là những nhân tố vô cớ. Điểm xuất phát để nhận thức tầm quan trọng của học thuyết giá trị thặng dư chính là luận điểm sản phẩm của lao động thừa vượt quá những chi phí để duy trì lao động và việc xây dựng, tích luỹ quỹ sản xuất xã hội và dự trữ “Tất cả những cái đó đã và mãi mãi vẫn là cơ sở cho mọi sự tiến bộ về xã hội, về chính trị và về tinh thần. Nó sẽ là điều kiện và động cơ kích thích sự tiến bộ hơn nữa…” Chúng ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát là nước tiểu nông cũng có nghĩa từ một nước chưa có nền kinh tế hàng hoá mặc dù có sản xuất hàng hoá. Cái thiếu của đất nước ta – theo cách nói của C. Mác – không phải là và chủ yếu là cái đó, mà cái chính là chưa trải qua sự ngự trị của cách tổ chức của kinh tế xã hội theo kiểu tư bản chủ nghĩa.
- Đất nước ta đang đứng trước nhiệm vụ cháy bỏng là tạo ra tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết, đó là sự phát triển của sức sản xuất, phát triển kinh tế hàng hoá sẽ tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư dù là chúng biểu hiện những quan hệ xã hội khác nhau. Chúng ta không thể đạt được mục tiêu kinh tế ấy ngay trong thời gian ngắn mà phải biết rút ngắn những quá trình tất yếu mà chủ nghĩa tư bản đã phải trải qua và đang thực hiện để có một nền kinh tế thị trường cực thịnh như ngày nay. Đó là một quá trình phát triển trải qua nhiều giai đoạn phân công lao động xã hội. Nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa hình thành và giá trị thặng dư cũng được sản xuất ra với khối lượng lớn lao trong sự phân công lao động, đặc biệt khi khoa học công nghệ phát triển và vận dụng có ý thức, rộng rãi vào sản xuất với quy mô chưa từng có. Các giai đoạn phát triển sản xuất và chiếm đoạt giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản đã diễn ra một cách tự phát và tuần tự. Nhưng đó cũng là những giai đoạn của một quá trình lịch sử – tự nhiên mà chúng ta chỉ có thể rút ngắn chứ không thể bỏ qua. Đó cũng là ý nghĩa thực tiễn rút ra từ học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác.
- Trong hoàn cảnh đất nước ta hiện nay cần có phương hướng khai thác và vận dụng những tư tưởng và các nguyên lý của học thuyết giá trị thặng dư một cách hiệu quả để đạt được những thành tựu mới đưa nền kinh tế đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Cần phải nhận thức lại hàng hoá sức lao động không phải là phạm trù riêng có của chủ nghĩa tư bản và phạm trù giá trị thặng dư xét về mặt định lượng cũng vậy. Nó tồn tại như là một bước tiến của các xã hội mà ở đó năng suất lao động vượt khỏi lao động tất yếu của họ. Nó là nguồn gốc của tích luỹ để mở rộng và hiện đại hoá sản xuất kinh doanh; là nguồn gốc của sự giàu có văn minh. Chính nó đòi hỏi xã hội cần phải:
  +Tìm mọi cách để tăng thời gian lao động thặng dư và nhất là tăng năng suất của lao động thặng dư.
  +Tuân thủ hai nguyên tắc cơ bản của vốn khi đầu tư và sử dụng nó. Đó là nguyên tắc bảo tồn vốn và nguyên tắc sinh lợi, nhất là nguyên tắc sinh lợi, để cho một đồng vốn đầu tư sử dụng được tăng thêm giá trị.
+ Xây dựng đồng bộ các loại thị trường, kể cả thị trường sức lao động.




Các bài viết tam khảo thêm 


Dịch vụ chụp ảnh thẻ